Manh nha một nền kinh tế sáng tạo cho Việt Nam

Bài này viết cho báo Nhân Dân Cuối Tuần, số ra ngày 31/8/2014 nhưng đã phát hành từ hôm nay. Tất nhiên là đã được biên tập theo phong cách của Nhân Dân rồi. Nhưng xin chép lại bản gốc ở đây, vì nó đúng tư duy của mình hơn. Còn bài được đăng thì mời xem ảnh cũng được.

Gõ cửa nền kinh tế sáng tạo Gõ cửa nền kinh tế sáng tạo

Richard Florida cho rằng thế giới không phẳng như chúng ta vẫn nghĩ, bởi những cái mũi nhọn, được hình thành từ các thành phố sáng tạo (creative city), là những đầu tàu kinh tế của cả thế giới. Khái niệm thành phố sáng tạo phải được hiểu là một vùng đất đô thị (không phân biệt quy mô) tập trung công nghệ, lực lượng sáng tạo, tập trung các doanh nghiệp mà sản phẩm của họ không gì khác hơn là sự sáng tạo gốc của cá nhân con người, được bảo hộ sở hữu trí tuệ mà hình thành giá trị gia tăng vượt trội. Họ thuộc các ngành công nghiệp sáng tạo (creative industries), cùng tập hợp thành nền kinh tế sáng tạo (creative economy), một phần của nền kinh tế tri thức.

Các thành phố sáng tạo đó là thung lũng Silicon với Apple, Facebook, Microsoft, HP, Dell… là Milan hay Paris với ngành công nghiệp thời trang, là London với âm nhạc, nghệ thuật, là Hollywood với công nghiệp điện ảnh, là Thượng Hải, Tokyo, là Seoul, Bangkok… 40 thành phố lớn nhất, chỉ với 17% dân số, làm ra 2/3 GDP toàn cầu và chiếm đến 85% hoạt động đổi mới sáng tạo. Việt Nam không có thành phố nào trong số đó.

Việt Nam ở đâu trong bản đồ kinh tế sáng tạo?

Thực ra, thuật ngữ công nghiệp sáng tạo mới chỉ biết đến rộng rãi từ năm 2008, khi Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên Hiệp quốc (UNCTAD) xuất bản báo cáo về công nghiệp sáng tạo thế giới lần đầu tiên. Đó là những ngành nghề kinh tế mà hàm lượng sáng tạo nguyên bản chiếm tỉ trọng lớn trong các sản phẩm của nó. Ngày nay, công nghiệp sáng tạo đóng góp khoảng 7% GDP toàn cầu, với tổng kim ngạch xuất khẩu từ các ngành này là 600 tỉ USD mỗi năm, tốc độ tăng trưởng khoảng 8,7% mỗi năm.

Những nước đi đầu trong công nghiệp sáng tạo, như Hoa Kỳ, đóng góp vào GDP đến 11,1%, với những ngành hái ra tiền như điện ảnh, âm nhạc, nội dung số, quảng cáo-truyền thông, v.v… Hàn Quốc là nước rất biết cách dùng công nghiệp văn hoá và công nghiệp sáng tạo để thúc đẩy các ngành công nghiệp khác và để xây dựng hình ảnh quốc gia. Công nghiệp sáng tạo đóng góp 6,3% GDP cho đất nước này. Ngay cả Philippines, ngành công nghiệp sáng tạo cũng khá phát triển, với khoảng 5% GDP.

Một chiếc iPod video của Apple bán ra với giá 299 USD, thì phần chi phí gia công lắp ráp chỉ chiếm 1% giá trị, phần cứng chiếm 45% giá trị, phần còn lại thuộc về phần mềm, các sáng tạo, marketing và phân phối. Một ly cà phê Starbucks tại Việt Nam, với sự sáng tạo về sản phẩm và phong cách, được bán giá 85.000đ – 150.000đ, trong khi các thương hiệu tương tự của Việt Nam chỉ có khoảng trên dưới 40.000 – 50.000đ. Cùng một nhà gia công tại Việt Nam, một chiếc áo sơ mi Hugo Boss, một thương hiệu thời trang xa xỉ danh tiếng, có giá trên thị trường là 300 USD, cũng chiếc áo đó, nếu đóng mác nội địa thì chỉ có vài trăm ngàn đồng.

Chúng ta không có số liệu để tính toán được quy mô của các ngành công nghiệp sáng tạo Việt Nam. Vì vậy, chúng ta cũng chưa được xếp vào bản đồ công nghiệp sáng tạo thế giới. Lý do có nhiều, song lớn nhất là chưa có sự quan tâm đúng mức từ các cấp có thẩm quyền.

Đối với hầu hết người Việt Nam, nhất là các quan chức quản lý, sáng tạo không phải là một ngành kinh tế. Phần nào đó, họ xếp các ngành sáng tạo vào hoạt động văn hoá, và coi đó như là hoạt động giải trí, nghệ thuật đơn thuần. Hơn nữa, giá trị gia tăng của các sản phẩm công nghiệp sáng tạo nằm ở khả năng bảo vệ bản quyền tác giả, là vấn đề vẫn còn quá sơ khai ở Việt Nam. Từ ý thức bảo vệ tác quyền của tác giả và chủ sở hữu thương hiệu, đến sự tôn trọng tác quyền từ phía người tiêu dùng đều còn rất xa để có thể đảm bảo giá trị gia tăng của các sáng tạo nguyên gốc.

Việt Nam có khả năng phát triển công nghiệp sáng tạo hay không?

Câu lạc bộ Doanh Nhân Sáng Tạo (VCE Club) là một trong số ít tổ chức tự nguyện thúc đẩy sự phát triển của công nghiệp sáng tạo tại Việt Nam. CLB này bước đầu xác định có 15 ngành nghề có thể có tiềm năng phát triển mạnh mẽ, trong đó có những ngành nghề đã được chứng minh sức mạnh thực sự, như thủ công mỹ nghệ, thiết kế công nghiệp, nội dung số, phần mềm, nghệ thuật trình diễn, ẩm thực… Đó cũng là những ngành mang lại thành công cho nhiều nước châu Á.

Tuy nhiên, để thực sự hình thành một nền kinh tế sáng tạo, Việt Nam phải vượt qua một loạt các rào cản quan trọng, mà hai trong số đó là đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ và xây dựng một môi trường thúc đẩy tự do sáng tạo. Hà Nội đã từng có một Zone 9 và sắp tới đây là Hanoi Creative City, Thành phố Hồ Chí Minh có 3A. Đó là những vườn ươm cho các doanh nghiệp sáng tạo. Đặt ra ngoài các vấn đề về an toàn xây dựng và pháp lý, những trung tâm sáng tạo này chưa hề nhận được sự quan tâm từ các cơ quan có thẩm quyền, cũng như tinh thần đón nhận sự đổi mới của người dân.

Vẫn biết rõ, sức sáng tạo của người Việt Nam là vô tận, là nguồn tài nguyên không thể cạn kiệt, có khả năng tạo dựng những giá trị gia tăng vượt trội cho nền kinh tế. Thay vì theo đuổi những ngành công nghiệp tiêu tốn tài nguyên thiên nhiên, hoặc khả năng sinh lời thấp, các ngành công nghiệp sáng tạo có khả năng mang lại lợi ích to lớn cho nền kinh tế, trong khi chi phí đầu tư lại thấp. Nhưng muốn vậy, cần một sự thay đổi đột phá, từ khung pháp lý và biện pháp chế tài liên quan đến sở hữu trí tuệ, và một tư duy vị tha với các tư tưởng sáng tạo mới.

Ý kiển của bạn