XU HƯỚNG BÁO CHÍ HIỆN TẠI VÀ TƯƠNG LAI: NỖI ĐAU KHÔNG CỦA RIÊNG… BÁO IN

Bài viết được đăng trên báo Diễn đan Doanh nghiệp ngày 20/6/2015, đọc link gốc tại: http://enternews.vn/xu-huong-bao-chi-hien-tai-va-tuong-lai-noi-dau-khong-cua-rieng-bao-in.html

 

Mới tuần trước, Apple tung tin sẽ cho ra mắt ứng dụng News – một thứ công cụ nền tảng dành cho báo chí “ký sinh” trên đó, tham vọng thay thế các “chợ” báo chí điện tử, kiểu như Newsstand.

Tương tự, đầu tháng trước Facebook tung ra công cụ Instant Articles, muốn trở thành cái cổng độc chiếm thị trường cung cấp tin tức mà cư dân Facebook, ước khoảng 1,4 tỷ người lúc này, sẽ sử dụng thường xuyên. Điều đáng quan tâm là, nếu 2 công cụ này thực sự mạnh, thì bạn đọc sẽ dần quên lãng cái thói quen gõ đường dẫn vào các tờ báo quen thuộc, và dòng chảy doanh thu quảng cáo sẽ trôi dần vào túi hai đại gia này – cho dù họ vẫn tử tế cam kết nếu các báo tự báo được quảng cáo thì vẫn được hưởng 100%.

“Kết nối là vua”

Việt Nam nằm ở khu vực có cả độ tương tác và số hoá thuộc loại cao trên thế giới, tương đương với Anh Quốc, vượt trên cả Mỹ và hơn hầu hết các nước Châu Á.

Một xu hướng nữa, cũng rất đáng quan tâm: Facebook đang trở thành nhà sở hữu công cụ truyền thông khủng nhất thế giới mà chẳng hề tự tạo ra một thứ nội dung nào cả. Uber, như ta đã thấy, đang thống trị ngành kinh doanh vận tải hành khách thế giới mà chẳng hề sở hữu bất cứ chiếc xe taxi nào. Alibaba đang trỗi dậy, vượt cả Amazon lẫn eBay để trở thành nhà bán lẻ có giá trị lớn nhất toàn cầu mà không hề tự mình có bất cứ thứ hàng hoá nào, không hề có tồn kho. Airbnb đang là nhà cung ứng bất động sản lớn nhất thế giới cũng chẳng hề có trong tay một thứ bất động sản nào.

Cả hai xu hướng này đều minh chứng một điều là, đang đến thời kỳ thống trị truyền thông của những kẻ có khả năng tạo ra công nghệ có khả năng kết nối, tương tác cao độ, biến mọi nhà sản xuất nội dung (content creator) thành các nhà cung ứng cho họ, phụ thuộc vào họ.

Còn chúng ta, ở Việt Nam, thì vẫn đang mải miết tranh cãi sự sống và cái chết của báo in?

Giờ đây, câu chuyện không chỉ xoay quanh sự tồn tại và suy vong của báo chí in nữa, mà ngay cả báo điện tử – những kẻ đang góp phần đẩy báo in xuống vực, cũng đang băn khoăn giữa hai dòng nước: buông tay thuận theo cuộc chơi của các đại gia công nghệ và mạng xã hội, hay vùng vẫy tìm lối thoát khác?

Ngay cả truyền hình cũng đang bị cuốn vào trào lưu này. Hãy xem tỷ lệ gia tăng nhanh chóng của người xem truyền hình ở độ tuổi 25 đến 45 đang chuyển sang truyền hình internet. Và khả năng download video nhanh đến chóng mặt của Instant Articles cho thấy xu hướng xem truyền hình trên mạng xã hội hoặc app như kiểu News không còn xa nữa.

Theo một báo cáo của WAN-IFRA, Hiệp hội Báo chí và các Nhà xuất bản Thế giới, năm 2014, thì Việt Nam nằm ở khu vực có cả độ tương tác và số hoá thuộc loại cao trên thế giới, tương đương với Anh Quốc, vượt trên cả Mỹ và đi xa hơn hầu hết các nước châu Á. Điều đó cho thấy rằng, Việt Nam sẽ là một trong những nước đi đầu về nhu cầu ứng dụng các giải pháp số hoá báo chí theo hướng cho phép khả năng tương tác cao với công chúng. Trong khi đó, trình độ số hoá và tương tác của các cơ quan báo chí chính thống hiện vẫn rất thấp, không theo kịp nhu cầu thị trường. Kết luận này cho phép giải mã tình trạng người Việt Nam tham gia vào các mạng xã hội, đặc biệt là Facebook, với tỷ lệ tăng trưởng thuộc hàng cao nhất thế giới, và cũng tương tác nhiều nhất, bàn luận nhiều nhất, và cũng “ném đá” nhiều nhất.

Chúng ta đang ở trong một thế giới kết nối. Một báo cáo của Cisco năm 2013 dự báo rằng hiện nay có khoảng 9 đến 10 tỷ thiết bị được kết nối qua các giao thức khác nhau. Điều đó tương đồng với khả năng tạo ra đến 13 ngàn triệu triệu mối liên kết. Điện thoại di động, các thiết bị đeo tay (wearables), các loại công nghệ kết nối internet không dây giá rẻ toàn cầu, các thiết bị kết nối thông minh trong môi trường “the Internet of Things”… tất cả đang tạo ra những khả năng truyền tải thông tin đa chiều vô cùng phức tạp, thay thế dần các phương thức truyền và tiếp nhận thông tin theo kiểu cũ.

Vậy, báo chí phải ứng xử như thế nào?

Quá trình số hoá không đơn giản là bê phiên bản báo in lên mạng internet. Cũng không phải chỉ là gia tăng đầu tư, đăng tải cho thật nhiều bài viết “câu view” lên trang báo điện tử. Cũng không chỉ là tạo ra các phiên bản “responsive” (có khả năng đáp ứng) với điện thoại di động. Mà đó là khả năng xây dựng các nền tảng thành tố tương hỗ trong một hệ sinh thái chuyên biệt của mỗi cơ quan báo chí. Mỗi nền tảng này đều có một thị phần riêng, mà sự phát triển của nó không làm ảnh hưởng suy giảm đến các nền tảng khác. Hơn thế, chúng có khả năng hỗ trợ nhau, cùng phát triển.

Cái bắt tay của các DN công nghệ và DN sở hữu giải pháp công nghệ truyền thông với báo chí là một điều cần được nghiên cứu và hỗ trợ phát triển.

Báo chí Mỹ đang bị ảnh hưởng nặng nề nhất, bởi chính đất nước này là cái nôi của mọi xu hướng phát triển công nghệ như trên đã nói. Và các ông lớn ở đó đang có sự chuyển dịch vô cùng mạnh mẽ. Họ liên tục lập ra các sản phẩm mới, chủ yếu là ứng dụng điện tử, khai thác thế mạnh riêng, gặm nhấm dần từng mảng thị trường ngách nhỏ bé. Lần đầu tiên, theo báo cáo chính thức của FIPP – Hiệp hội các nhà xuất bản tạp chí toàn cầu, và WAN-IFRA, doanh thu phát hành đã vượt qua doanh thu quảng cáo.

Tuy nhiên, việc ứng dụng theo xu thế này ở Việt Nam không dễ. Trong khi, việc ra mắt các sản phẩm mới, cả truyền thống lẫn điện tử, ở nước ngoài khá đơn giản, thì ở Việt Nam, mọi ấn phẩm phụ, hoặc phụ trang điện tử, đều phải được cấp phép… Thậm chí, các trang tin điện tử bị buộc phải làm giống hệt như bản in, một hình thức góp phần tiêu diệt nhanh chóng bản in một cách có chủ đích. Ngoài ra, các quy định cứng nhắc về hình thức sản phẩm báo chí cũng tỏ ra quá lỗi thời và không bắt kịp nổi với xu thế mới của truyền thông.

Công nghệ kết nối tương tác đang làm thay đổi mọi giao thức giao tiếp thông thường. Nếu các nhà lập pháp và hành pháp vẫn tiếp tục quản lý báo chí theo kiểu tư duy áp đặt thì không những họ đã làm triệt tiêu mọi khả năng thích ứng và tồn tại của báo chí, mà còn làm suy yếu công cụ tuyên truyền và bảo vệ thể chế. Họ nên hiểu, cái cần quản lý là nội dung của truyền thông, chứ không phải là hình thức truyền tải của nội dung truyền thông.

Điều đó có nghĩa là, cái bắt tay của các DN công nghệ và DN sở hữu giải pháp công nghệ truyền thông với báo chí là một điều cần được nghiên cứu và hỗ trợ phát triển.

Ý kiển của bạn