Xây dựng luật, phải đón đầu xu thế

Chuyện không còn mới, nhưng vẫn cứ phải nói, mà nói nhiều lần, để ngõ hầu tác động thay đổi tư duy, vì một sự phát triển ổn định và bền vững. Đây là toàn văn bản tham luận gửi đến Hội nghị tham vấn về dự thảo Luật Báo chí (sửa đổi), do Viện Nghiên cứu lập pháp của Quốc Hội tổ chức ngày 7/3/2016, tại Hải Phòng.

Trong bối cảnh biến động nhanh chóng của công nghệ thông tin và truyền thông, Luật Báo chí (sửa đổi), nếu không tính đến xu hướng phát triển tất yếu của báo chí thì rất nhanh chóng trở nên lạc hậu và trở thành rào cản phát triển của báo chí nói riêng, và của truyền thông nói chung. Trong khi đánh giá rất cao nhiều tư tưởng tiến bộ trong dự thảo luật Báo chí, tôi vẫn băn khoăn rằng, luật này, nếu không được thiết kế theo cách đón đầu xu hướng của truyền thông, thì hoặc là sẽ chạy vuốt đuôi theo trào lưu, mất đi tính điều chỉnh thực tiễn, hoặc là sẽ trở thành lực cản rất lớn cho báo chí.
Trước khi đi vào các vấn đề của luật, tôi xin nêu 2 xu hướng quan trọng đang làm thay đổi báo chí thế giới, mà báo chí Việt Nam không phải là ngoại lệ:
Thứ nhất, báo chí truyền thống (mà chúng ta gọi là báo in, báo nói, báo hình) tự thân đã không còn có thể tồn tại với tư cách là một nền tảng độc lập nữa. Ngay cả báo mạng, mới được phát triển từ đầu thập niên 2000 cũng đang biến đổi về chất rất rõ.
Thế giới đang bàn về truyền thông hội tụ hàng chục năm nay, theo đó, một cơ quan báo chí phải là tập hợp nhiều nền tảng truyền thông, mà cốt lõi là các nền tảng điện tử như mobile web, mobile app… Truyền thông hội tụ không có nghĩa là một tập hợp đa nền tảng đơn thuần, mà phần lớn các cơ quan quản lý báo chí hiểu rằng nền tảng điện tử là phiên bản copy của nền tảng truyền thống. Trái lại, đó là hệ sinh thái gồm những nền tảng không hoàn toàn giống nhau, thậm chí khác nhau, nhắm tới những đối tượng bạn đọc khác nhau, nhưng có khả năng bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau.
Chúng ta đều biết, xu thế chung của thế giới và Việt Nam cũng không ngoại lệ, là các loại hình báo chí truyền thống như báo in, tạp chí in… đều suy thoái nghiêm trọng. Theo số liệu của Kantar Media, doanh thu quảng cáo trên báo chí in liên tụt sụt giảm từ 132,5 triệu đôla năm 2009 (chiếm 18% trên tổng chi phí quảng cáo trên truyền thông đại chúng) xuống còn 84,3 triệu đôla năm 2014 (chiếm chưa tới 5% tổng chi phí quảng cáo).
Báo chí không có doanh thu tốt thì không bao giờ có thể mạnh được. Rõ ràng là, nếu không chuyển hướng sang loại hình báo chí điện tử thì cơ quan báo chí khó sống nổi. Trong khi đó, thủ tục cấp phép quá khó khăn. Các tờ báo, nếu không được trở thành báo điện tử, thì bắt buộc phải đăng lại nội dung của bản in lên website – một hình thức tự sát đối với báo in. Đã khó càng thêm khó.
Điều đó có nghĩa là, một cơ quan báo chí đương nhiên phải phát triển nhiều nền tảng truyền thông khác nhau để tồn tại, bất luận anh có muốn hay không. Thực tế là, nếu các báo không thay đổi thật nhanh, bắt kịp với xu hướng, xây dựng ngay lập tức một hệ sinh thái, với nhiều nền tảng truyền thông đồng thời, thì chắc chắn báo đó sẽ chết sớm. Các nền tảng đó bao gồm báo in, báo mạng, phiên bản báo mạng di động (mobile responsive), phiên bản PDF tương tác cho máy tính bảng, phiên bản smartphone, phiên bản đa phương tiện, video, thực tại ảo (Aumented Reality), phiên bản mạng xã hội, sự kiện tương tác, v.v… mà mỗi nền tảng này lại bắt buộc phải khác nhau, hỗ trợ, bổ sung cho nhau chứ không triệt tiêu nhau. Nên nhớ rằng các nền tảng trên đây chỉ là một số ví dụ, vì khả năng sáng tạo các nền tảng mới là vô cùng lớn và diễn ra liên tục.
Các cơ quan báo chí của ta hiểu rõ điều đó, và bởi vậy, việc ra báo điện tử hầu như là giải pháp tiên quyết. Trong khi đó, luật Báo chí lại hạn chế điều này, với cái cách đặt ra quy định về các hình thức truyền thông trên mạng internet, gọi là báo điện tử chỉ dành cho một số ít cơ quan báo chí; tạp chí điện tử bắt buộc là phiên bản giống hệt phiên bản in; trang mạng điện tử là khái niệm dành cho các cơ quan khác, được quyền sao chép, cóp nhặt thông tin của người khác. Các quy định này đi ngược lại xu hướng truyền thông nói trên.
Thứ hai, bên cạnh báo chí chính thống (được cấp phép chính thức), xu hướng truyền thông xã hội đang ngày càng tỏ ra vượt trội. Nhiều cơ quan báo chí thế giới, và mới đây là Việt Nam, đã phải lệ thuộc vào các nền tảng truyền thông xã hội như Instant Articles của Facebook, kênh truyền hình internet YouTube, các giải pháp truyền thông OTT như Zalo, Viber, WhatsApp… Tỷ lệ bạn đọc tiếp cận các trang thông tin qua các chia sẻ trên các nền tảng truyền thông xã hội này ngày càng gia tăng và dần chiếm ưu thế. Điều này cũng có nghĩa là xu hướng báo chí cá nhân cũng phát triển rất mạnh. Nhiều nhà báo, thay vì đăng tải các phóng sự điều tra của họ trên báo chí chính thống đã chọn trang Facebook cá nhân, với đầy đủ bài viết, hình ảnh, video… không khác gì một toà soạn hội tụ.
Chắc hẳn quý vị chưa quên sự lúng túng của cơ quan quản lý nhà nước khi đứng trước các chương trình truyền hình tự phát trên YouTube, chẳng hạn như “Những kẻ lắm lời”, các blog cá nhân hoạt động như một tờ báo, hoặc các trang website tin tức chui đội lốt trang thông tin điện tử. Đó là hệ luỵ của lối quản lý hình thức cứng nhắc mà lâu nay chúng ta vẫn làm.
Tôi tin rằng, Luật Báo chí đưa ra, trước hết là nhằm mục đích hỗ trợ cho báo chí phát triển, nhanh, mạnh, và bền vững, với trọng trách xây dựng dư luận xã hội, tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước, cũng như định hướng thông tin về mọi mặt của cuộc sống. Như vậy, Luật Báo chí trước hết phải nhìn nhận khách quan xu hướng thị trường của báo chí thế giới, đặc biệt là xu hướng sinh tồn và tiêu vong của các loại hình báo chí, phải tạo điều kiện cho báo chí trong nước phát triển theo đúng xu hướng chung của công nghệ, của phương thức tiếp nhận thông tin của công chúng, chứ không nên giới hạn báo chí trong các loại hình đang suy thoái, khó phát triển.
Nếu dự thảo này phớt lờ các xu hướng tất yếu nói trên – xu hướng thiết lập hệ sinh thái đa nền tảng, và vẫn áp đặt hình thức của từng cơ quan báo chí, bằng một hệ thống các quy định máy móc về cấp phép cho từng nền tảng, thì Luật Báo chí sẽ góp phần hạn chế tính năng động, sáng tạo của báo chí, sẽ giảm thiểu sức cạnh tranh của báo chí. Hậu quả tất yếu là sự sụp đổ nhanh chóng của các cơ quan báo chí, vì tự đào thải.
Điều tôi muốn kiến nghị là Luật Báo chí nên thay đổi cách quản lý báo chí, từ quản lý hình thức sang quản lý nội dung, hãy cấp phép một lần cho cơ quan báo chí và cho phép họ tự do sáng tạo, phát triển các nền tảng phù hợp với chiến lược cạnh tranh và chiến lược thị trường của họ, phù hợp năng lực của họ. Thay vào đó, chỉ tập trung quản lý bộ máy lãnh đạo cơ quan báo chí, quản lý lập trường tư tưởng và nội dung thông tin mà họ đăng tải trên các nền tảng đó. Chỉ bằng cách cho phép các cơ quan báo chí được cấp phép chính thức, chủ động sáng tạo lập ra nhiều nền tảng truyền thông mạnh mẽ, thì mới có thể vững mạnh, tạo uy thế thông tin chi phối đối với các kênh thông tin không chính thức hoặc tự phát.
Một vấn đề khác, đó là vấn đề bản quyền trong hoạt động báo chí còn hời hợt, thiếu tác dụng thực tế.
Đây chính là nỗi nhức nhối lớn nhất của báo chí Việt Nam. Báo chí là một phần của kinh tế sáng tạo. Giá trị của báo chí hoàn toàn nằm ở khả năng bảo hộ quyền tác giả, sở hữu trí tuệ các tác phẩm báo chí. Mất quyền tác giả, quyền sở hữu trí tuệ, báo chí mất người đọc, mất luôn khả năng gia tăng doanh thu quảng cáo và các cơ hội kinh doanh khác. Vậy mà, toàn bộ dự thảo Luật Báo chí chỉ có một điều duy nhất đề cập đến vấn đề này (Điều 45).
Trên thực tế, mặc dù có đầy đủ hệ thống pháp lý, luật về sở hữu trí tuệ và bản quyền tác giả, nhưng khả năng thực thi, bảo hộ bản quyền tác giả, đặc biệt trong lĩnh vực báo chí hầu như là không thể. Các cơ quan báo chí chỉ có thể dựa vào ý thức tự giác của các đồng nghiệp, các hoạt động vận động tự thân. Luật Sở hữu trí tuệ quá rộng và không có văn bản dưới luật nào trực tiếp điều chỉnh hành vi trong lĩnh vực báo chí, không có định nghĩa hay hướng dẫn rõ ràng thế nào là vi phạm bản quyền tác giả đối với sản phẩm báo chí. Đăng lại bao nhiêu phần trăm, dịch bao nhiêu phần trăm từ bản gốc, trích dẫn như thế nào, chỉnh sửa hình ảnh ra sao… thì coi như là vi phạm bản quyền, và phải trả phí tác quyền ra sao, v.v… và v.v…
Đó là lý do vì sao tình trạng đạo tác phẩm báo chí, vi phạm bản quyền diễn ra thường xuyên, liên tục và không có hướng giải quyết. Các trang tin điện tử tổng hợp là các đơn vị xâm phạm bản quyền nhiều nhất, nhưng các cơ quan báo chí chính thống cũng vậy mà thôi.
Nguyên nhân là, các trang tin điện tử tổng hợp được luật khuyến khích vi phạm bản quyền. Quý vị sẽ ngạc nhiên khi nghe tôi nói như vậy. Nhưng thực tế là sự tồn tại của loại hình truyền thông này trong dự Luật Báo chí đã là sự bất hợp lý. Hơn nữa, điều kiện để cấp phép cho những phương tiện truyền thông này lại là “được phép sao chép lại ít nhất 5 cơ quan báo chí”. Trên thực tế, không một cơ quan báo chí nào (trừ phi đó là cơ quan báo chí quá nhỏ bé) cho phép một website sao chép lại bài vở của họ, một cách gián tiếp giảm bớt lượng bạn đọc hoặc lượng truy cập vào chính tờ báo đó. Ngay cả khi được trả tiền tác giả thì thiệt hại là rất đáng kể.
Trên thực tế, các trang điện tử này, do luật không cho phép họ tự làm nội dung, sẽ nghiễm nhiên xào lại, cóp nhặt bài vở của các trang báo chí khác, chứ họ không thể tồn tại chỉ với nội dung từ 5 tờ báo. Vì số lượng loại website này quá nhiều, nên khả năng ngăn chặn là rất khó. Nếu luật làm chặt, họ buộc phải tự làm nội dung, thì lại vi phạm giấy phép.
Vì vậy, tôi kiến nghị loại bỏ khái niệm “trang tin điện tử tổng hợp” trong dự Luật. Chỉ các cơ quan báo chí mới được quyền xuất bản các website có tính chất báo chí, cho dù đó là báo chí điện tử hay chuyên trang điện tử, và nó được hoạt động theo kiến nghị số 1 trên đây.
Các loại website, kênh thông tin điện tử khác, thuộc các tổ chức hoặc cá nhân sẽ được xuất bản và điều chỉnh theo quy chế của các phương tiện truyền thông phi báo chí.
Đề nghị bổ sung chức năng bảo vệ bản quyền báo chí vào nội dung quản lý nhà nước về báo chí. Hội Nhà báo Việt Nam cũng cần bổ sung thêm vai trò trọng tài trong các tranh chấp về bản quyền báo chí. Điều này là để gia tăng tính hiệu quả thực thi pháp luật, vì khi bị vi phạm, việc khiếu kiện theo trình tự tố tụng là bất khả thi.
Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) mà chúng ta vừa ký với 11 quốc gia, trong đó có Mỹ, sẽ có hiệu lực trong 2 năm nữa. Theo đó, điều kiện tiên quyết là Việt Nam phải tuân thủ các điều khoản về sở hữu trí tuệ và quyền tác giả. Hiệp định Thương mại Tự do giữa Việt Nam và Cộng đồng châu Âu (EU), dự kiến sẽ được ký kết sớm và có hiệu lực vào năm 2018, cũng nhấn mạnh vấn đề quyền tác giả và sở hữu trí tuệ. Điều này cho thấy chúng ta không thể chần chừ được nữa.
Mới đây, mạng YouTube đã đóng cửa kênh chính thức của Đài Truyền hình Việt Nam do vi phạm bản quyền của một cá nhân. Đây là một hành động khá cứng rắn, nhưng phù hợp của YouTube, nhằm thực thi bảo vệ bản quyền tác giả – một trong những nguyên tắc hàng đầu của các nền tảng truyền thông quốc tế. Động thái này cho thấy, Việt Nam không còn đứng ngoài cuộc chơi chung toàn cầu và buộc phải tuân thủ các điều kiện phổ quát mà việc tôn trọng quyền tác giả là một.
Trên đây là các kiến nghị của tôi mang tính chất khái niệm và có thể ảnh hưởng đến tư duy xây dựng Luật, rất quan trọng đối với tiến trình xây dựng Luật Báo chí, có khả năng có hiệu lực lâu dài, dựa vào xu thế phát triển tất yếu của truyền thông.
Xin trân trọng cảm ơn!
Ý kiển của bạn